Site icon Nhạc lý căn bản – nhacly.com

Đề luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn (Đề số 4)

2019 – 05-19 T06 : 10 : 03-04 : 00

Đề luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn, gồm hai phần : Đọc hiểu và Làm văn, có đáp án và hướng dẫn vấn đáp ./ themes / cafe / images / no_image. gif

Bài Kiểm Tra

http://139.180.218.5/uploads/bai-kiem-tra-logo.png

I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Những giọt nước bé nhỏ,
Những hạt bụi đang bay
Đã làm nên biển lớn
Và cả trái đất này.
Cũng thế, giây và phút,
Ta tưởng ngắn, không dài,
Đã làm nên thế kỷ,
Quá khứ và tương lai.
Những sai lầm nhỏ bé,
Ta tưởng chẳng là gì,
Tích lại là tai họa,
Làm ta chệch hướng đi.
Những điều tốt nhỏ nhặt;
Những lời nói yêu thương
Làm trái đất thành đẹp,
Đẹp như chốn thiên đường.
(Nguồn: Fb Thái Bá Tân)
 
Câu 1. Bài thơ trên có sự kết hợp những phương thức biểu đạt nào?
Câu 2. Chỉ ra và phân tích ý nghĩa của một biện pháp tu từ đặc sắc trong bài thơ trên.
Câu 3. Nội dung chính tác giả muốn thể hiện trong hai khổ thơ đầu là gì?
Câu 4. Anh/Chị có đồng tình với quan điểm của tác giả: “Những sai lầm nhỏ bé/Ta tưởng chẳng là gì/Tích lại là tai họa” không? Vì sao?
 
II. LÀM VĂN
Câu 1. Từ  nội dung bài thơ  ở  phần Đọc hiểu, Anh/Chị  hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan niệm về vai trò của những điều tốt nhỏ nhặt trong cuộc sống.
Câu 2. Vẻ đẹp xứ Huế qua hai tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử) và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
 
 

—————————–

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

 
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Bài thơ có sự kết hợp hai phương thức biểu đạt: biểu cảm và nghị luận.
Câu 2. HS có thể chỉ ra và phân tích tác dụng của một trong các biện pháp tu từ sau:
+ Điệp cấu trúc qua bốn khổ thơ – tác dụng nhấn mạnh nội dung diễn đạt: “những điều tưởng như bé nhỏ lại là nguyên nhân tạo ra những kết quả lớn lao.”
+  Biện pháp so sánh:  “Đẹp như chốn thiên đường.”  Những điều tốt đẹp làm cuộc sống tươi đẹp hơn, con người thấy hạnh phúc hơn như chốn thiên đường.
+  Nghệ  thuật  đối  trong từng  khổ  thơ  –  tác  dụng  thể  hiện mối  tương  quan  giữa những điều nhỏ bé và những điều to lớn.
Câu 3. Nội dung chính của hai khổ  đầu: chỉ  ra mối quan hệ  giữa những điều bé nhỏ (“giọt nước”, “hạt bụi”, “giây”, “phút”) và những điều to lớn (“biển cả”, “trái đất”,
“thế  kỉ”)  từ  đó đi tới luận điểm chính những điều nhỏ  bé vụn vặt lại là nguyên nhân dẫn tới những kết quả to lớn.
Câu 4. HS thể  hiện quan điểm của mình theo hướng đồng tình với quan điểm nhà thơ bởi những sai lầm nhỏ  bé nhưng nếu không sửa chữa, khắc phục kịp thời thì lâu dần sẽ thành thói quen, tính cách xấu và là nguyên nhân của mọi tai họa.
 
II. LÀM VĂN
Câu 1.  Trình bày quan niệm về vai trò của những điều tốt nhỏ nhặt trong cuộc sống.
– Giải thích ý kiến: việc tốt nhỏ nhặt là những việc mà chúng ta thường xuyên thực hiện trong cuộc sống hàng ngày như một thói quen, một tính cách. Đó chính là văn hóa sống của mỗi người, mở rộng ra là văn hóa của cộng đồng, xã hội.
–  Phân tích, chứng minh: những việc nhỏ  hằng ngày như biết quan tâm, giúp đỡ người khác, biết chia sẻ, lắng nghe, biết sống tự  trọng, cầu tiến…sẽ  tạo nên nhân cách của mỗi cá nhân, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng và đó chính là cơ sở quan trọng nhất để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
–  Bình luận, bác  bỏ:  phê  phán  những  quan niệm  sống  xa  vời  thực  tế, mơ  mộng theo những việc phi thường mà quên mất những việc nhỏ  nhặt, phê phán những kẻ đạo đức giả thuyết lí xa xôi mà không gắn liền với hành động.
–  Bài học: phải rèn luyện mình từ  những việc nhỏ  hàng ngày, những việc tốt nhỏ nhặt cũng chính là cơ sở  để  tạo nên cuộc sống tốt đẹp cũng như thành công lớn sau này.
 
Câu 2. Vẻ đẹp xứ Huế qua hai tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông”.
* Mở bài.
–  Giới thiệu bài “Đây thôn  Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử. Giới thiệu bài “Ai  đã đặt tên  cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
– Giới thiệu vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp xứ Huế qua hai tác phẩm.
 
* Thân bài.
Vẻ đẹp xứ Huế trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ”.
–  Cảnh vườn cây đẹp trong nắng ban mai với cành lá mơn mởn ướt sương, ánh như  ngọc  được  miêu  tả  trực  tiếp,  qua  những  hình  ảnh  cụ  thể,  sinh  động.  Con người xứ Huế hiền lành, phúc hậu.
–  Sau vườn cây xứ Huế là thiên nhiên xứ Huế. Cảnh trời, mây, sông, nước ở đây thật đẹp, nhất là cảnh một dòng sông được tưới đẫm ánh trăng với con thuyền chở đầy ánh trăng nhưng tất cả đều thấm đượm nỗi buồn.
–  Khổ thơ thứ ba thể hiện một nỗi niềm canh cánh của thi nhân trong không gian bao la của trời, mây, sông, nước đã thấm đẫm ánh trăng. Đó là sự hy vọng, chờ đợi, mong mỏi và một niềm khắc khoải khôn nguôi. Vẫn ở trong mộng ảo,  vì vậy cảnh và người ở đây đều hư hư, thực thực.
=> Tóm lại : Cảnh đẹp, giàu sức sống, thơ mộng nhưng đượm một nỗi buồn bâng khuâng, da diết.
Vẻ đẹp xứ Huế trong bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông”.
– Vẻ đẹp được phát hiện ở cảnh sắc thiên nhiên:
+ Sông Hương có vẻ đẹp “phóng khoáng và man dại, rầm rộ, mãnh liệt, một bản trường ca của rừng già” khi nó đi qua giữa lòng Trường Sơn.
+ Vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ khi trở thành  “người mẹ phù sa”  của một vùng văn hóa đất cố đô, có vẻ đẹp phản quang nhiều màu sắc của nền trời tây nam thành phố “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”.
+  Vẻ  đẹp  “trầm  mặc”  khi  lặng  lẽ  chảy  dưới  chân  những  rừng  thông  u  tịch  với những lăng mộ âm u mà kiêu hãnh của các vua chúa triều Nguyễn.
+ Vẻ đẹp mang màu sắc  “triết lí”, “cổ thi”  khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên Mụ.
+ Vẻ đẹp “vui tươi” khi đi qua những bãi bờ xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long.
+ Vẻ đẹp “mơ màng trong sương khói” khi nó dời xa dần thành phố để đi qua những nương dâu, lũy trúc và những hàng cau thôn Vĩ Dạ.
– Vẻ đẹp sông Hương nhìn từ góc độ văn hóa:
+ Tác giả cho rằng đã có một dòng thi ca về con sông Hương, một dòng thơ không lặp lại mình, ấy là “dòng sông trắng- lá cây xanh”, trong thơ Tản Đà.
+ Vẻ đẹp hùng tráng “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát.
+ Là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan.
+ Là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu.
–  Vẻ đẹp nhìn từ góc độ lịch sử: sông Hương từng là dòng sông bảo vệ biên thùy tổ quốc thời Đại Việt, từng soi bóng kinh thành Phú Xuân của Nguyễn Huệ, từng chứng kiến bao cuộc khởi nghĩa, rồi đến cách mạng tháng tám, chiến dịch mậu thân năm 1968.
–  Vẻ đẹp trong trí tưởng tượng đầy tài hoa của tác giả: Ông đã nhìn sông Hương như một cô gái Huế, từng có lúc là một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại, nhưng nói chung là một thiếu nữ tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc, đa tình và kín đáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình, khéo trang sức mà không lòe loẹt phô phang, giống như những cô dâu Huế ngày xưa trong sắc áo điều đục.  “Đấy cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông”.
Nét tương đồng.
–  Cả hai nhà thơ đều lấy những địa danh nổi tiếng của xứ Huế (Vĩ Dạ và sông Hương) làm điểm nhấn và khởi hứng cảm xúc.
– Cùng tái hiện được vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh sắc con người xứ Huế rất riêng, rất thơ mộng. Có được điều đó chứng tỏ mảnh đất, con người Huế đã chiếm chỗ sâu bền nhất trong lòng các tác giả.
– Cả hai đều là những cây bút tài hoa, tinh tế, nhạy cảm trong văn chương, có tâm hồn hết sức lãng mạn, phong phú.
 
Nét khác biệt.
–  “Đây  thôn  Vĩ  Dạ”: Bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm bưu thiếp mà Hoàng Cúc gửi cho Hàn Mặc Tử nên điểm nhìn cảm xúc trong một không  gian hẹp, cái nhìn từ kí ức. Cảnh vật của xứ Huế hiện lên với những nét đặc  trưng rất bình dị, quen thuộc, gần gũi nhưng cũng thật lãng mạn: cảnh khu vườn mướt như ngọc, sông trăng huyền ảo, con người với vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng, cảnh vật in đậm cảm xúc về tình đời, tình người.
– “Ai  đã  đặt  tên  cho  dòng  sông”?: Hoàng Phủ Ngọc Tường chọn điểm nhìn là sông Hương, đặt trong một không gian phóng khoáng, rộng lớn hơn. Vẻ đẹp của xứ Huế hiện lên ở rất nhiều góc độ từ quá khứ cho đến hiện tại, từ lịch sử, thơ văn đến địa lí, văn hóa. Vì thế vùng đất cố  đô hiện lên toàn diện hơn, hiện thực hơn bởi sông Hương chính là linh hồn của Huế, là nơi tích tụ những trầm tích văn hóa lâu đời của mảnh đất kinh thành cổ xưa.
 
Lí giải sự khác biệt.
–  Xuất phát từ đặc điểm của thể loại thơ và bút kí là khác nhau. Thơ nghiêng về cảm xúc, tâm trạng.  Bút  kí không chỉ đòi hỏi có cảm xúc mà ít nhiều có tính xác thực và khách quan.
–  Đối với Hàn Mặc Tử, Huế là nơi tác giả từng gắn bó, giờ đã trở thành kỉ niệm. Còn Hoàng Phủ Ngọc Tường là người con của xứ Huế nên chất Huế đã thấm sâu vào tâm hồn máu thịt của ông.
 
* Kết bài.
– Đánh giá chung về sự sáng tạo của mỗi tác giả.
– Khẳng định vai trò, vị trí của tác giả và tác phẩm trong lòng bạn đọc.

Exit mobile version